Thiếu kẽm và tác hại

Kẽm có nhiều trong: hải sản (hàu, trai, sò, ốc, hến, mực…), thịt lợn nạc, thịt gà, vịt, gan, lòng đỏ trứng gà, ngũ cốc và đậu. Trong ngũ cốc và đậu, đỗ thì giàu phytat (một chất gây kém hấp thu kẽm).

Kẽm có vai trò rất quan trọng vì nó tham gia vào quá trình tổng hợp protein và mô mới, chuyển hoá lipit và carbonhydrat, vì vậy kẽm rất cần thiết cho cơ thể, đặc biệt với trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú. Thiếu kẽm làm giảm testosterone trong huyết tương gây thiểu năng sinh dục nam. Thiếu kẽm cũng gây thiểu năng sinh dục nữ. Theo Scott và Fisher, tác dụng giảm đường huyết của insulin phụ thuộc vào kẽm có trong insulin. Thiếu kẽm cũng thường gặp ở người mắc các bệnh: tiêu chảy, xơ gan do rượu, tiểu đường, thiểu năng tuyến tụy, người ăn chay…

Theo điều tra của giáo sư Janet King (đại học California Davit – Hoa Kỳ), khẩu phần ăn của người Việt nam thông thường có 4,5 mg kẽm/ngày (nhu cầu cần thiết là 10 – 15 mg/ngày với người lớn), tỉ lệ phytate/kẽm (mol) là 48 (tỉ lệ thích hợp là nhỏ hơn 15). Chính lượng Phytate cao sẽ gây kém hấp thu kẽm và các khoáng chất. Thói quen uống nước chè, nước vối sau khi ăn cũng gây kém hấp thu kẽm, khoáng chất và gây khó tiêu do có chứa hoạt chất tannin. Cũng theo điều tra của Viện dinh dưỡng thì 27,8% dân số Việt Nam thiếu kẽm trong khẩu phần ăn.

Vì vậy, Giáo sư Janet King khuyến nghị đối với người Việt Nam do chế độ ăn giàu ngũ cốc muốn đáp ứng đủ nhu cầu kẽm cần phải tăng lượng kẽm khẩu phần hoặc giảm phytate trong khẩu phần. Để giảm Phytate khẩu phần cần giảm lượng ngũ cốc, đậu, đỗ tiêu thụ hoặc ngâm ngũ cốc, đậu, đỗ trong nước ấm hơi axit (thêm chút chanh hoặc dấm) trước khi nấu 30 phút đến 8 giờ tùy theo loại.

Đồng thời bà cũng khuyến nghị với phụ nữ mang thai cần bổ sung thêm kẽm là: 0,2 mg/ngày; 0,4 mg/ngày và 0,7 mg/ngày tương ứng với 3 tháng đầu; 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ, và cũng cần tăng hấp thu kẽm ở phụ nữ mang thai hoặc cho con bú. Bổ sung Vitamin C cũng là một trong những biện pháp tăng hấp thu kẽm.

Việc thiếu kẽm khi mang thai sẽ dẫn đến: tăng huyết áp khi mang thai, tiền sản giật, xuất huyết, nhiễm trùng, chuyển dạ kéo dài hoặc xảy thai tự nhiên cho bà mẹ. Đồng thời còn gây: chậm phát triển, cân nặng sơ sinh thấp, sinh non cho thai nhi và dễ nhiễm trùng, tăng trưởng chậm cho trẻ sau khi sinh.

                                                                                                                                                                                            ThS. Phù Thị Thắm

Tin tức khác